Lịch Sử Đà Lạt

Cao nguyên Lâm Viên – Lang Biang trước năm 1893 là địa bàn cư trú của các tộc  người Thượng. Người Việt đầu tiên có ý định khám phá vùng rừng núi Nam Trung Bộ là Nguyễn Thông, nhưng do nhiều lí do nên cho tới cuối đời ông  vẫn không thực hiện được ý định của mình.

Vào hai năm 1880 và 1881, bác sĩ hải quân Paul Néis và trung úy  Albert Septans có những chuyến thám hiểm đầu tiên vào vùng người Thượng ở  Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, và họ được coi là hai nhà thám hiểm đầu  tiên đã tìm ra cao nguyên Lang Biang. Hành trình của Paul Néis và Albert  Septans mở đường cho nhiều chuyến đi khác như A. Gautier (năm 1882), L.  Nouet (1882), thiếu tá Humann (1884).

Ngày 3 tháng 8 năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin thực hiện  chuyến thám hiểm đầu tiên với ý định tìm đường núi từ Nha Trang vào Sài  Gòn, nhưng chuyến đi này bất thành. Từ 28 tháng 3 đến 9 tháng 6 năm  1892, Yersin thực hiện một cuộc thám hiểm từ Nha Trang, băng qua vùng  cao nguyên Đắk Lắk để đến Stung Treng, nằm bên bờ sông Mê Công (thuộc  địa phận Campuchia).

Tháng 1 1893, Yersin nhận nhiệm vụ từ toàn quyền Jean Marie  Antoine de Lanessan, khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên sâu  vào vùng người Thượng và kết thúc ở một địa điểm thuận lợi trên bờ biển  Trung Kỳ. Yersin còn phải tìm hiểu về tài nguyên trong vùng: lâm sản,  khoáng sản, khả năng chăn nuôi… Từ ngày 8 tháng 4 đến ngày 26 tháng 6  năm 1893, Yersin đã thực hiện ba chuyến đi quan trọng. Và 15h30 ngày 21  tháng 6, Yersin đã phát hiện ra cao nguyên Lang Biang, trong nhật ký  hành trình, ông ghi vắn tắt “3h30: grand plateau dénudé mamelonné”  (3h30: cao nguyên lớn trơ trụi, gò đồi nhấp nhô).

Với nhu cầu tìm một vùng đất có khí hậu ôn hòa, gần giống với  châu Âu để xây dựng khu nghỉ mát, trạm điều dưỡng, toàn quyền Paul  Doumer viết một bức thư hỏi ý kiến của Yersin, và Yersin đã trả lời là  cao nguyên Lang Biang. Tháng 3 năm 1899, Yersin cùng toàn quyền Doumer  thực hiện một chuyến đi lên cao nguyên Lang Biang và chuyến đi này có ý  nghĩa quyết định về việc thành lập một trạm điều dưỡng ở đây.

Ngày 1 tháng 11 năm 1899, Doumer ký nghị định thành lập ở Trung  Kỳ tỉnh Đồng Nai Thượng (Haut-Donnai) và hai trạm hành chính được thiết  lập tại Tánh Linh và trên cao nguyên Lang Biang. Đó có thể được xem là  văn kiện chính thức thành lập trạm điều dưỡng trên cao nguyên Lang Biang  – tiền thân của thành phố Đà Lạt sau này.

Ngày 20 tháng 4 năm 1916,  vua Duy Tân đã ra đạo dụ thành lập thị tứ, tức thị xã (centre urbain)  Đà Lạt, tỉnh lị tỉnh Lâm Viên. Đạo dụ này được Khâm sứ J.E. Charles  chuẩn y ngày 30 tháng 5 năm 1916.

Trong hai thập niên 1900 và 1910, người Pháp đã xây dựng hai tuyến  đường từ Sài Gòn và từ Phan Thiết lên Đà Lạt. Hệ thống giao thông thuận  lợi giúp Đà Lạt phát triển nhanh chóng. Vào năm 1893, vùng Đà Lạt ngày  nay hầu như hoang vắng. Đến đầu năm 1916, Đà Lạt vẫn còn là một khu thị  tứ nhỏ với độ 8 căn nhà gỗ tập trung hai bên bờ dòng Cam Ly, chỉ có 9  phòng khách sạn phục vụ du khách, đến cuối năm này mới nâng lên được 26  phòng. Cuối năm 1923, đồ án thiết kế đầu tiên hoàn thành, Đà Lạt đã có  1.500 dân.

Ngày 31 tháng 10 năm 1920, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định  chuẩn y đạo dụ ngày 11 tháng 10 cùng năm của vua Khải Định về việc thành  lập thành phố (commune- thành phố loại 2) Đà Lạt cùng với việc tỉnh  Đồng Nai Thượng được tái lập. Nhằm biến Đà Lạt thành một trung tâm nghỉ  mát ở Đông Dương, Nha giám đốc các sở nghỉ mát Lâm Viên và du lịch Nam  Trung Kỳ được thành lập. Đứng đầu thành phố là một viên Đốc lý, đại diện  của Toàn quyền Đông Dương. Năm 1928 chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng  về Đà Lạt. Năm 1936 một Hội đồng thành phố được bầu ra. Năm 1941, Đà  Lạt trở thành tỉnh lỵ tỉnh Lâm Viên (Lang Bian) mới tái lập. Thị trưởng  Đà Lạt kiêm chức Tỉnh trưởng tỉnh Lâm Viên.

Trong thời gian Thế chiến thứ hai, những người Pháp không thể về  chính quốc nên họ tập trung lên nghỉ ở Đà Lạt. Nhiều nhu cầu rau ăn,  hoa quả của người Pháp cũng được Đà Lạt cung cấp.

Ngày 10 tháng 11 năm 1950, Bảo Đại ký Dụ số 4-QT/TD ấn định địa giới thị xã Đà Lạt.

Theo Địa phương chí Đà Lạt (Monographie de Dalat), năm 1953, thị  xã Đà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều Cương thổ, có diện tích là 67 km²,  dân số: 25.041 người.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, dân số Đà Lạt tăng nhanh bởi  lượng người di cư từ Bắc vào Nam. Dưới chính quyền miền Nam, Đà Lạt được  phát triển như một trung tâm giáo dục và khoa học.

Năm 1957, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ tỉnh Tuyên Đức. Thị xã Đà Lạt có 10 khu phố.

Nhiều trường học và trung tâm nghiên cứu được thành lập: Viện  Đại học Đà Lạt (1957), Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (1959), Thư viện Đà  Lạt (1960), trường Đại học Chiến tranh Chính trị (1966), trường Chỉ huy  và Tham mưu (1967)… Các công trình phục vụ du lịch được tiếp tục xây  dựng và sửa chữa, hàng loạt biệt thự do các quan chức Sài Gòn, nhiều  chùa chiền, nhà thờ, tu viện được xây dựng… Đà Lạt cũng là một điểm  hấp dẫn với giới văn nghệ sĩ.

Sau 1975, với sự rút đi của quân đội và bộ máy chính quyền miền  Nam, nhưng được bổ sung bởi lượng cán bộ và quận đội miền Bắc, dân số Đà  Lạt ổn định ở con số khoảng 86 ngàn người. Du lịch Đà Lạt hầu như bị  lãng quên. Những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, hàng loạt  khách sạn, nhà hàng được sửa chữa, nhiều biệt thự được đưa vào phục vụ  du lịch… Đà Lạt trở thành một thành phố du lịch quan trọng của Việt  Nam với nhiều lễ hội được tổ chức.

Cuối năm 1975 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng  sản Việt Nam quyết định Đà Lạt sẽ trở thành 1 trong 4 thành phố trực  thuộc Trung ương, nhưng ngay sau đó đã điều chỉnh lại. Tháng 2 năm 1976  Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Nghị định hợp  nhất tỉnh Tuyên Đức, tỉnh Lâm Đồng và thị xã Đà Lạt thành tỉnh Lâm  Đồng. Thị xã Đà Lạt trở thành thành phố tỉnh lỵ tỉnh Lâm Đồng.

Lựa chọn khác
  • Quán Ăn Bình Dân Đà Lạt
  • Quán cafe ở Đà Lạt
  • Quán Nhậu Đà Lạt
  • Thông Tin Du Lịch Đà Lạt
  • Điểm tham quan du lịch Đà Lạt
  • Lịch Sử Đà Lạt
  • Du lịch Đà Lạt